Hyundai Santa Fe V6 2.7 DOHC
Santa “Phê”
Từ trước tới nay, chỉ những chiếc SUV hạng lớn mới có tới 3 hàng ghế nhưng gần đây, người tiêu dùng đã có thể lựa chọn loại SUV nhỏ hơn, vừa tiền hơn mà vẫn đủ chỗ cho 7 người ngồi. Hyundai Santa Fe là loại xe như vậy và không những thế, nó còn quyến rũ khách hàng nhờ một ngoại hình hấp dẫn, một cấu trúc kỹ thuật hiện đại và nhất là nhờ mức giá phải chăng.

“Lái xe khá thế mà không biết nút mở bình xăng nằm đâu!?” – chị nhân viên trạm bán xăng – sau một hồi chỉ trỏ “xi nhan” yêu cầu tôi tiến lên lùi xuống giữa hai hàng xe máy cho vừa với... chiều dài ống dẫn xăng – đã ngạc nhiên thốt lên như vậy. Quả thực, nếu có thể coi là lỗi thiết kế thì có lẽ nút mở nắp xăng là sơ suất duy nhất của các nhà thiết kế Hyundai.
Không phải ngẫu nhiên mà tập đoàn xe hơi lớn nhất Hàn quốc lại đặt tên cho dòng xe này là “Santa Fe”. Thoạt tiên, đây là loại xe dành để phục vụ cho thị trường Mỹ. Thế hệ Santa Fe thứ nhất hầu như không được biết tới ở các thị trường khác trên thế giới, ngoài Hàn quốc và Hoa Kỳ. Thế rồi, trong cuộc chiếm lĩnh thị trường châu Âu, vốn khó tính hơn rất nhiều so với sứ xở của Coca-Cola và bánh mỳ kẹp thịt bò băm viên, Hyundai đã đưa ra thế hệ thứ hai của Santa Fe với thiết kế ưa nhìn, trang thiết bị hiện đại, giá cả phải chăng. Và, người tiêu dùng Việt Nam cũng được hưởng lợi từ việc đó. Chiếc Santa Fe mà “Xe 442” giới thiệu với độc giả trong số đầu tiên này cũng thuộc mức trang bị cơ bản, gắn động cơ xăng và hệ dẫn động bánh trước. Về hình dáng bên ngoài, có lẽ Hyundai muốn nhấn mạnh tính tiện nghi hơn là tính năng địa hình nên Santa Fe không có thiết kế vuông vức, đầy chất nam tính mà mang dáng vẻ lịch sự với những đường cong nhẹ trên thân. Trong toàn bộ tổng thể, phần mũi xe có thiểt kế mạnh mẽ nhất với mặt nạ đặc trưng của Hyundai nằm ngay trên lỗ hút khí lớn và bộ đèn trước với cấu trúc khá độc đáo, thường chỉ thấy trên những chiếc concept. Đường gờ dưới mép kính bên hông xe vuốt căng lên trên về phía đuôi cùng với hàng cửa kính hẹp dần đem lại cho Santa Fe một nét riêng khi nhìn ngang. Phần đuôi được làm khá chau truốt với bộ đèn hậu mềm mại, cánh gió nhỏ bên trên kính hậu, hai đầu ống xả lớn hình ô-van và đặc biệt là tay cầm để mở cửa hậu. Ngoài nút mở bình xăng, có lẽ đây cũng là một chi tiết “đánh đố” người tiêu dùng. Nhìn vào tay nắm này, bạn hãy đoán thử cửa hậu sẽ mở ra theo hướng nào: Sang trái (hợp lý nhất)? Sang phải (hơi vô lý nhưng hầu hết các loại xe địa hình đều áp dụng)? Hay lên trên (không thể tưởng tượng nổi)?
Câu trả lời, dĩ nhiên, là lên trên. Như nắp thùng xe sedan thông thường.

Santa Fe dài 4650 mm (nhỉnh hơn thế hệ cũ 150 mm) và khoảng cách giữa hai trục bánh của nó là 2700 mm. Đây là kích thước đặc trưng cho dòng xe hạng trung. Không quá dài để chiếc xe vẫn có thể linh hoạt trong phố đông nhưng cũng đủ lớn để tạo nên một ca-bin thoáng rộng. Mặc dù không phải là loại xe dẫn đầu về phong cách mốt trong thiết kế nội thất nhưng các chất liệu dùng trong ca-bin và chất lượng lắp ghép đều đạt điểm ưu. Bảng đồng hồ chính và các cụm thiết bị khác đều được chiếu sáng bằng một thứ ánh sáng xanh nước biển – màu mốt trong lĩnh vực thắp sáng ca-bin hiện nay. Cách bố trí nút bấm, cần gạt,... khá gần gũi với người sử dụng, trừ nút mở nắp bình xăng đã đề cập bên trên. Nằm dưới tab-lô là một nẹp chất dẻo giả gỗ, rất hợp với màu be sáng của tab-lô. Bệ tỳ tay được chia làm hai ngăn, ngăn trên đựng các thứ đồ lặt vặt còn ngăn dưới là nơi lưu trữ CD. Hộp đựng găng tay không lớn lắm nhưng đổi lại, Santa Fe có thêm hốc nhỏ ngay phía trên bệ trung tâm. Vì Santa Fe có kích thước tương tự như một chiếc xe hạng trung (trên thực tế, nó được xây dựng trên cơ sở kỹ thuật của dòng Hyundai Sonata) nên không gian trong ca-bin rất rộng rãi nếu chỉ sử dụng hai hàng ghế. Lúc này, hàng ghế thứ ba được xếp gọn xuống sàn xe và Santa Fe lại bộc lộ một nhược điểm nữa là không có nắp đậy khoang chứa hàng. Nếu sử dụng cả 3 hàng ghế, thể tích thùng hàng sẽ giảm đáng kể và nếu hành khách mang theo nhiều hành lý thì buộc phải... ôm khư khư một vài túi đồ. Điều đó không đến nỗi khó chịu với những người ngồi trên hàng ghế thứ hai nhưng với hai người ngồi sau cùng thì đó quả là một sự phiền toái. Nếu không dùng hàng ghế thứ ba, thùng xe có thể chứa được một lượng hành lý có thể tích tương đương với 774 lít (VDA), rộng chừng gấp rưỡi thùng xe sedan hạng trung, còn nếu ngả cả hàng ghế thứ hai thì sức chứa của thùng xe lên tới hơn 1,5 m3 (1.582 lít).
Từ sedan chuyển sang, hẳn bạn sẽ cảm thấy thoải mái với tư thế lái trên Santa Fe vì tầm nhìn rộng do vị trí ghế lái khá cao. Nhược điểm duy nhất là trụ A khá dày và gương hậu hơi to nên góc quan sát về phía bên trái bị hạn chế. Đây là điểm mà các tài xế cần chú ý vì trong một số trường hợp, bạn sẽ không phát hiện kịp thời người đi xe đạp hoặc khách bộ hành trong vùng khuất đó. Hàng pê-đan được bố trí với chiều cao và khoảng cách hợp lý, cùng với vô-lăng và ghế lái có thể chỉnh được độ cao thấp khiến cho chủ xe dễ dàng chọn cho mình một tư thế lái thoải mái nhất. Động cơ xăng V6 2.7L cho công suất tối đa 189 mã lực. Động lực này thừa đủ để kéo chiếc xe nặng 1670 kg trong giao thông hàng ngày nơi đô thị, kể cả những lúc bạn lười về số. Santa Fe được trang bị bộ vành 18 inch cùng những chiếc lốp rộng 235mm mang nhãn hiệu Kumho. Nhờ vành rộng và gầm cao, chủ xe có thể yên tâm leo trèo lên vỉa hè lúc đỗ xe hay thản nhiên lội nước trong những ngày mưa ngập phố và đó là những lợi thế hơn hẳn của SUV so với các loại xe khác. Như đã đề cập, Santa Fe chỉ dài bằng chiếc sedan hạng trung nên không quá cồng kềnh trong thành phố còn khi đi ra đường trường thì ca-bin thoáng rộng và vị trí ngồi thoải mái vẫn luôn là những ưu điểm được người lái đánh giá cao. Mức tiêu thụ nhiên liệu trung bình của xe vào khoảng 12 lít đến 13 lít/100km. Vì bình nhiên liệu của xe có dung tích 75 lít nên còn có thể đi được chừng 600 km đường nữa, tôi mới lại phải rẽ vào trạm xăng để bơm xăng và lần này, hẳn sẽ không còn lúng túng với vị trí nút mở nắp bình xăng trong ca-bin. (xem ảnh trong Thư viện ảnh)
Chuyên mục Xe442 – Tạp chí Bóng đá 442
Bảng kỹ thuật
Huyndai Santa Fe V6 2.7 DOHC
Dung tích buồng đốt: 2656 cm3
Công suất tối đa: 189 mã lực @ 6000 vòng/phút
Mô men xoắn cực đại: 248 Nm @ 4000 vòng/phút
Dài/Rộng/Cao : 4650/1890/1725 mm
Khoảng cách giữa hai trục bánh: 2700 mm
Dung tích bình nhiên liệu: 75 lít
Thể tích thùng xe: 774 lít/1582 lít
Tăng tốc từ 0-100 km/h: 10 giây (số sàn)
Vận tốc tối đa: 190 km/h